logo
cart










logo

Ngành Điện Công Nghiệp - Ngành Công Nghiệp Đầy Tiềm Năng

Từ Điển Công Nghiệp | 06 - 09 - 2022

Điện được xem là một điều không thể thiếu trong cuộc sống ngày này, vì vậy ngành điện công nghiệp cũng dần trở nên phát triển. Vậy bạn có thực sự biết ngành điện công nghiệp là gì? Quy trình tổ chức của ngành này ra sao? và tương lai của ngành sẽ như thế nào?

1. Ngành điện công nghiệp là gì?

Với sự phát triển của xã hội hiện nay, điện công nghiệp một ngành vô cùng quan trọng được sử dụng trong hầu như tất cả các hoạt động của người dân từ sinh hoạt hàng ngày cho đến sản xuất, kinh doanh với tất cả ngành nghề. Ngành điện công nghiệp còn giúp đất nước thực hiện quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa, nó mang nhiệm vụ đảm bảo sự ổn định của dòng điện vận hành, truyền tải điện năng an toàn, hiệu quả và hợp lí nhằm cung cấp cho các hoạt động sản xuất, công nghiệp, nông nghiệp, thương mại, dịch vụ,..

Ngành điện công nghiệp là gì?

2. Quy trình tổ chức của ngành công nghiệp điện.

Như những ngành nghề khác, ngành công nghiệp điện thường được chia làm bốn quá trình là: sản xuất điện tại nhà máy điện, truyền tải điện, phân phối điện và bán lẻ điện. Ở nhiều nước, các công ty điện lực sở hữu toàn bộ cơ sở hạ tầng từ trạm phát điện đến cơ sở hạ tầng truyền tải và phân phối. Vì lý do này, năng lượng điện được coi là độc quyền tự nhiên. Ở Việt Nam, tập đoàn Điện Lực Việt Nam - EVN được xem là tập đoàn lớn của Nhà nước giữ vai trò trụ cột của ngành năng lượng. Ngành điện công nghiệp này thường được quản lý chặt chẽ, thường có kiểm soát giá cả và thường do chính phủ sở hữu và điều hành. Tất cả các hình thức phát điện đều có mặt tích cực và tiêu cực.

Quá trình sản xuất của ngành điện công nghiệp

Truyền tải điện năng

Truyền tải điện năng là sự di chuyển của năng lượng điện từ một địa điểm phát điện, chẳng hạn như nhà máy điện, đến một trạm biến áp điện. Các đường kết nối với nhau tạo điều kiện cho sự di chuyển này được gọi là mạng lưới truyền dẫn. Điều này khác với hệ thống dây dẫn cục bộ giữa các trạm biến áp cao áp và khách hàng, thường được gọi là phân phối điện.

Trước đây, các đường dây truyền tải và phân phối đều thuộc sở hữu của cùng một công ty, nhưng bắt đầu từ những năm 1990, nhiều quốc gia đã tự do hóa việc điều tiết thị trường điện theo những cách dẫn đến việc tách doanh nghiệp truyền tải điện ra khỏi kinh doanh phân phối. Mạng lưới truyền tải và phân phối kết hợp được gọi là "lưới điện" ở Bắc Mỹ. Ở Vương quốc Anh, Ấn Độ, Việt Nam, Malaysia và New Zealand, mạng được gọi là Lưới điện quốc gia.

Phân phối điện

Phân phối điện năng là giai đoạn cuối cùng trong quá trình phân phối; nó mang điện từ hệ thống truyền tải đến các hộ tiêu thụ riêng lẻ. Các trạm biến áp phân phối đấu nối vào hệ thống truyền tải và hạ điện áp truyền tải xuống điện áp trung áp từ 2 kV đến 35 kV bằng máy biến áp.

Đường dây phân phối sơ cấp mang điện trung thế này đến các máy biến áp phân phối đặt gần cơ sở của khách hàng. Máy biến áp phân phối lại hạ điện áp xuống điện áp sử dụng cho chiếu sáng, thiết bị điện công nghiệp hoặc thiết bị gia dụng. Thường thì một số khách hàng được cung cấp từ một máy biến áp thông qua các đường dây phân phối thứ cấp. Các khách hàng thương mại và dân cư được kết nối với các đường phân phối thứ cấp thông qua các đợt giảm giá dịch vụ. Những khách hàng yêu cầu lượng công suất lớn hơn nhiều có thể được kết nối trực tiếp với mức phân phối sơ cấp hoặc mức truyền tải phụ.

3. Những nguồn năng lượng được sử dụng để sản xuất điện ở Việt Nam

Hiện vẫn chưa rõ hình thức nào có thể đáp ứng tốt nhất nhu cầu năng lượng cần thiết hoặc quy trình nào có thể giải quyết tốt nhất nhu cầu về điện. Có những dấu hiệu cho thấy năng lượng tái tạo đang nhanh chóng trở nên khả thi nhất về mặt kinh tế. Sự kết hợp đa dạng của các nguồn phát điện giúp giảm rủi ro tăng giá điện.

Những năng lượng sản xuất điện năng

Thủy điện

Theo các nghiên cứu gần đây, tiềm năng kinh tế và công nghệ của thủy điện ở Việt Nam vào khoảng 75.000-85,84 tỷ KWh, công suất tương ứng 18.000-20.000 MW. Trong đó, tiềm năng kinh tế của 10 lưu vực sông lớn chiếm khoảng 85,9% tổng lưu vực sông cả nước. Cho đến nay, tổng trữ lượng kinh tế và công nghệ của các lưu vực sông chính đã vượt quá 18.000 MW, tương ứng với khoảng 70 tỷ kilowatt giờ phát điện.

Theo dự báo của quy hoạch phát triển thủy điện năm 2020, tiềm năng kinh tế - kỹ thuật của thủy điện lớn sẽ phát huy hết tiềm năng, năng lượng thủy điện của các sông lớn không còn khả năng sử dụng các thác. Về thủy điện nhỏ, tính đến cuối năm 2013, có 180 dự án đi vào hoạt động với tổng công suất lắp máy khoảng 1,8GW. Con số này thấp hơn nhiều so với tiềm năng thủy điện nhỏ trên 7 GW của Việt Nam. Còn đối với những dự án cực nhỏ (dưới 100kW) ở những nơi vùng sâu, vùng xa với địa hình hiểm trở cũng đã và đang bắt đầu được khai thác, sử dụng.

Năng lượng mặt trời

Vị trí địa lý của Việt Nam nằm ở ranh giới giữa xích đạo và chí tuyến, là khu vực nội nhiệt đới có ánh nắng quanh năm, đặc biệt là ở phía nam. Tổng số giờ nắng cả năm dao động trong khoảng 1400-3000 giờ, tổng bức xạ trung bình năm khoảng 230-250lcal / cm2 / ngày, tăng dần từ Bắc vào Nam. Tuy nhiên, việc phát triển và sử dụng năng lượng này vẫn còn nhiều hạn chế.

Trong tương lai khi sự phát triển của các nguồn năng lượng khác trong ngành điện công nghiệp đã đến giới hạn thì năng lượng mặt trời là một tiềm năng rất lớn. Ngày 11 tháng 4 năm 2017, Chính phủ đã phê duyệt Quyết định số 11/2017 / QĐ-TTg về cơ chế khuyến khích phát triển năng lượng mặt trời tại Việt Nam. Việc phát điện mặt trời sẽ được mua với giá cố định là 9,35 cents / kWh (tương đương 2.086 đồng / kWh) - cao hơn giá mua các loại điện khác với điều kiện phải vận hành và đấu nối vào hệ thống điện trước ngày 30/6/2019.

Hai dự án điện mặt trời nối lưới đầu tiên là Phong Điền và Krông Pa đã đi vào hoạt động với tổng công suất 86 MW. [7] Theo thống kê của EVN, tính đến ngày 30/6/2019, 82 trạm điện mặt trời đã được đưa vào vận hành, với tổng công suất lắp đặt là 4.464 MW. Mặc dù việc gia tăng năng lượng tái tạo trong hệ thống là một tín hiệu đáng mừng, nhưng số lượng lớn các nhà máy điện mặt trời đưa vào vận hành trong thời gian ngắn đã kéo theo nhiều khó khăn cho việc vận hành hệ thống.

Nguyên nhân nằm ở sự không chắc chắn và phụ thuộc vào thời tiết của loại nguồn cung cấp điện này. Ngoài ra, việc phát triển quy mô lớn các dự án điện mặt trời tập trung tại các tỉnh Ningshun, Bình Thuận, Dalak đã gây ra tình trạng quá tải lưới điện 110 kV và 220 kV tại các khu vực nói trên.

Năng lượng gió

Việt Nam nằm trong vùng cận nhiệt đới gió mùa, có đường bờ biển dài, có lợi thế cơ bản là phát triển năng lượng gió. So với tốc độ gió trung bình trên Biển Hoa Đông và các vùng biển lân cận Việt Nam, gió trên Biển Đông khá mạnh và thay đổi nhiều theo mùa. Tiềm năng điện gió của Việt Nam là rất lớn, tổng tiềm năng điện gió của Việt Nam ước tính là 513.360 MW, gấp hơn 200 lần công suất của Thủy điện Sơn La và hơn 10 lần tổng công suất dự báo của Trạm Thủy điện Sơn La.

Nhà máy thủy điện Sơn La Năm 2020, ngành điện sẽ bổ sung thêm 2 nhà máy điện gió mới vào hệ thống điện vào năm 2016, với tổng công suất điện gió lắp đặt là 160 MW. Tuy nhiên, so với tổng dung lượng toàn hệ thống thì đây vẫn là một con số khá khiêm tốn. Khu phức hợp Trung Nam ở Ninh Thuận được hoàn thành vào tháng 4 năm 2019 và bao gồm một trang trại điện gió 40 MW và điện mặt trời 204 MW.

Hai nguồn năng lượng khác

  • Khai thác năng lượng địa nhiệt là khả thi về mặt kinh tế, khả thi và thân thiện với môi trường, nhưng trước đây nó bị giới hạn về mặt địa lý đối với các khu vực gần ranh giới kiến ​​tạo của mảng. Những tiến bộ công nghệ gần đây đã dần dần mở rộng phạm vi và quy mô của các nguồn tài nguyên tiềm năng này, đặc biệt là cho các ứng dụng trực tiếp như sưởi ấm trong gia đình. Các giếng địa nhiệt có xu hướng giải phóng lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính bị mắc kẹt sâu dưới lòng đất, nhưng lượng khí thải này thấp hơn nhiều so với lượng khí thải từ quá trình đốt nhiên liệu hóa thạch truyền thống. Nếu được triển khai rộng rãi, công nghệ này có thể giúp giảm bớt sự nóng lên toàn cầu.
  • Năng lượng sinh khối Theo Quyết định số 24/2014/QĐ-TTg, vào ngày 24 tháng 3 về việc hỗ trợ phát triển những dự án điện sinh khối tại Việt Nam. Mục tiêu trước năm 2014, có khoảng 40 nhà máy mía đường áp dụng vào công nghệ đồng phát nhiệt điện (từ bã mía), tổng công suất 150MW.

Trên đây là những thông tin hữu ích về ngành điện công nghiệp EI Industrial muốn cung cấp cho các bạn. Mong rằng qua những kiến thức trên sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về ngành điện công nghiệp là gì? và tiềm năng của ngành điện công nghiệp.

Ngoài ra, bạn có thể đọc thêm những bài viết ngành công nghiệp:

 

 

Tags:

Tin Mới Nhất